Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

NGĂN CHẶN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Đái tháo đường (ĐTĐ), còn gọi là tiểu đường, đang là một căn bệnh của thế kỷ vì bệnh ngày càng trở nên rất phổ biến trên khắp thế giới và gia tăng có vẻ như không ngừng.

Cơ chế bệnh
ĐTĐ không phải là bệnh nan y, ít gây tử vong cấp kỳ, cũng không truyền nhiễm. Nhưng một khi đã mắc bệnh, con người luôn phải canh cánh với những biến chứng do tăng đường huyết kéo dài làm tổn thương thành mạch máu, dẫn đến mờ mắt, tổn thương tim, não, thận, vết thương không lành...

                                                                Ảnh minh họa

Để phòng ngừa ĐTĐ, hãy cùng tìm hiểu nguyên nhân của bệnh.
Hiện các nhà di truyền học vẫn chưa tìm thấy gen gây bệnh, mặc dù thấy rất rõ ràng là bệnh có yếu tố gia đình. Nếu có cha hoặc mẹ bị bệnh ĐTĐ thì có khoảng 1-7% những đứa con bị mắc bệnh này.

Còn nếu cả cha và mẹ đều bị tiểu đường thì có đến 1/3 số con mắc bệnh ĐTĐ. ĐTĐ rất hay gặp ở những người thừa cân, béo phì, có cuộc sống thụ động, bị rối loạn dung nạp đường huyết, người cao huyết áp, tăng mỡ máu...

Đặc biệt, ở những người có sự thay đổi chế độ ăn đột ngột rất có thể phát bệnh ĐTĐ. Nghiên cứu ở những người phụ nữ Việt Nam di cư sang Úc, thấy rằng tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nhóm này cao hơn hẳn người Việt Nam cũng như những phụ nữ Úc bản địa.

Những người trước ăn nhiều rau ít thịt nay chuyển sang ít rau nhiều thịt sẽ tăng cân nhanh và mắc ĐTĐ dễ dàng hơn những người duy trì chế độ ăn hợp lý.

                                                                     Ảnh minh họa

Các biện pháp phòng ngừa bệnh đái tháo đường
Quan tâm đến BMI để có sức khỏe tốt nhất: BMI là chỉ số khối cơ thể, tính theo công thức BMI = cân nặng (kg): [chiều cao (m) x chiều cao (m)].

Nếu BMI từ 18.5 - 23 (kg/m2) là cân nặng hợp lý, tình trạng dinh dưỡng bình thường, cân đối.
Nếu BMI từ 23 - 25 là thừa cân. BMI từ 25 - 27,5 là béo phì độ I, 27,5 - 30 là béo phì độ II, trên 30 là béo phì độ III.

Hãy giữ cân nặng phù hợp với chiều cao (cân nặng lý tưởng - CNLT)
CNLT tính theo công thức: CNLT = chiều cao (mét) x chiều cao (mét) x 22
Ví dụ một người cao 1,5 m (150 cm), cân nặng phù hợp là 1,5 x 1,5 x 22 = 49,5 kg.

Ăn đa dạng thực phẩm (ít nhất 20 - 30 loại thực phẩm mỗi ngày), thay đổi món thường xuyên để đủ các chất dinh dưỡng.

Hạn chế các thức ăn nhiều năng lượng (béo, ngọt), thức ăn công nghiệp chế biến sẵn (đồ hộp, đồ gói, xúc xích, snack...). Hạn chế các thực phẩm chứa nhiều cholesterol và béo không tốt như mỡ động vật (trừ mỡ cá), da gà, da heo, đồ lòng, phủ tạng (tim, gan, cật, óc heo), lòng đỏ trứng...

Dùng dầu thực vật thay mỡ động vật, nên ăn cá ít nhất 2 lần trong tuần, thay một phần thịt bằng đậu hũ.
Ăn nhiều các loại rau quả tươi (trên 300 gam rau đã nhặt sạch), trên 200 gam trái cây mỗi ngày.
Không ăn quá nhiều một loại thực phẩm, chỉ ăn với lượng vừa đủ theo nhu cầu cơ thể.

Chất đạm (có nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua, đậu hũ...) chỉ nên ăn vừa đủ: Khoảng 30-50g thực phẩm giàu đạm cho một chén cơm.

Chất bột đường nên chiếm 55 - 65% tổng năng lượng (có nhiều trong cơm, nui, mì, bún, phở, khoai, bắp, trái cây...).

Chất béo chiếm 20 - 25% tổng năng lượng (có nhiều trong mỡ, dầu, bơ, magarine, sữa béo, các loại hạt nhiều dầu như mè, đậu phọng...).

Hạn chế ăn mặn: Ăn muối không quá 10gam/ngày (muỗng cà phê) kể cả muối trong dưa cà muối, ướp cá, bột nêm, mì gói, xúc xích, chả lụa...

Nên chia lượng thức ăn trong ngày thành nhiều bữa nhỏ, trung bình 4 - 5 bữa/ngày.
Hạn chế bia rượu, thuốc lá.

Uống đủ nước 6 - 8 ly mỗi ngày (2 lít mỗi ngày).

Tập thể dục đều đặn 30 - 45 phút mỗi ngày, 5-7 ngày trong tuần.


Sống chung với bệnh đái tháo đường
Bệnh đái tháo đường xảy ra do cơ thể thiếu insulin hoặc insulin không phát huy tác dụng đưa đường vào tế bào. Insulin là một nội tiết tố của tụy, có nhiệm vụ giúp cơ thể thu nhận đường từ thức ăn và dùng đường đó để hoạt động.

ĐTĐ được chia làm hai loại chính là type 1 và type 2. 

Trong type 1, tuỵ bị phá hủy nên không còn tiết được insulin nữa. Ở type 1, triệu chứng thường dồn dập và xảy ra ở người dưới 30 tuổi. 

Người bệnh có thể ăn nhiều, tiểu nhiều, uống nhiều và gầy sút nhanh, hoặc có thể bị cơn tăng đường đường huyết cấp tính gây hôn mê. Tuy nhiên, thể bệnh này ít gặp, chỉ chiếm khoảng 5% trong tổng số bệnh nhân đái tháo đường tại Việt Nam.

Trong type 2, tụy vẫn tiết insulin nhưng cơ thể không sử dụng hiệu quả insulin đó. Có nhiều yếu tố khiến cơ thể không sử dụng hiệu quả insulin như ít vận động, béo phì... 

Triệu chứng của type 2 thường âm ỉ, nên muốn phát hiện bệnh, thường phải đi thử đường huyết định kỳ.

Nếu đã bị bệnh, để phòng ngừa biến chứng, cần phải ổn định đường huyết, ổn định huyết áp, uống các thuốc điều trị rối loạn chuyển hóa mỡ, duy trì chế độ ăn uống hợp lý và luyện tập thể lực.

Người bệnh tiểu đường cần hạn chế chất bột đường. Tuy nhiên, vẫn có thể sử dụng 200-250gam gạo mỗi ngày, chia làm 3 bữa.

Cũng có thể ăn khoai tây, khoai lang với lượng cung cấp chất bột đường tương đương lượng gạo trên.

Các chất dinh dưỡng khác: Protit: khoảng 200gam thịt/ngày hoặc những chất đạm khác tương đương như trứng, hoặc cá, đậu phụ; lipid: khoảng 30gam dầu thực vật; các loại rau quả có vitamin.

Rượu bia làm cho khó ổn định đường huyết.

Người bị ĐTĐ nên đi bộ, bơi, chơi bóng bàn, cầu lông, quần vợt. Đối với loại thể thao nặng cần kiểm tra tim trước khi chơi.

ĐTĐ có thể có thêm 2 loại biến chứng: đục thủy tinh thể và tổn thương võng mạc. Đục thuỷ tinh thể có thể phẫu thuật phaco. Khi bị tổn thương võng mạc có thể mổ lazer.





















Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét